Thursday, 04/03/2021 - 01:37|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Vĩnh Thới

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYỂN SINH 10 MÔN TOÁN TRƯỜNG THCS VĨNH THỚI

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYỂN SINH 10 MÔN TOÁN TRƯỜNG THCS VĨNH THỚI

 GIẢI PHÁP GIỮ VỮNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYỂN SINH

MÔN TOÁN NĂM HỌC 2020 - 2021

Chắc hẳn trong mỗi giáo viên chúng ta, ai cũng mong muốn học trò của mình luôn chăm ngoan, học giỏi, đạt được nhiều kết quả cao trong học tập. Một trong những điều thầy cô quan tâm nhiều nhất đó là: không những giữ vững mà còn nâng cao chất lượng tuyển sinh 10. Trong những năm gần đây trường THCS Vĩnh Thới đã có nhiều thành tựu nhất định trong hoạt động dạy và học nhưng chất lượng thật sự vẫn còn  nhiều điều đáng lo ngại. Thể hiện rõ nét nhất là chất lượng học sinh thi tuyển vào lớp 10 liên tục trong 4 năm kể từ năm học 2016-2017 đến nay.Vậy nên yêu cầu đặt ra là mỗi giáo viên chúng ta phải tìm ra những nguyên nhân thành công cũng như thất bại một cách chính xác, phải nhìn thẳng vào sự thật một cách khách quan.Từ đó đưa ra những  biện pháp tích cực sát với thực tế để từng bước khắc phục nhằm giữ vững và nâng cao chất lượng tuyển sinh 10.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục: là những người làm công tác giáo dục, chương trình - sách giáo khoa, thiết bị dạy học, cơ sở vật chất, ý thức học tập của học sinh, sự quan tâm của cha mẹ học sinh, của giáo viên, của các tổ chức xã hội, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục. Chúng ta cần xác định nguyên nhân nào là quan trọng có tính quyết định để từ đó có biện pháp khắc phục một cách có hiệu quả. 

1. Thực trạng hiện nay ở Trường THCS Vĩnh Thới:

THỐNG KÊ TUYỂN SINH NĂM HỌC 2017-2018

Năm học

TS HS dự thi

15 điểm trở lên

Môn Toán >= 5

Hạng theo môn

Hạng theo trường

2017-2018

105

53 (50,48%)

68 (64,76%)

4/12

4/12

2018-2019

154

59 (38,31%)

61 (39,61)

12/12

12/12

2019-2020

115

42 (36,52%)

27(23,5%)

11/12

12/12

 

THỐNG KÊ TUYỂN SINH 10 NĂM 2020-2021

MônToán

 

Lớp

TS HS dự thi

Điểm

<3.5

3.5-<5

5-<6,5

6.5-<8

8-<10

10

>5

TS

TỶ LỆ

9/1

27

0

1

4

5

12

5

26

96,30%

9/2

27

0

5

8

9

4

1

22

81,48%

9/3

19

0

1

7

5

5

1

18

94,74%

9/4

17

1

1

4

5

6

0

15

88,24%

9/5

11

0

0

4

5

2

0

11

100%

Cộng

101

1

8

27

29

29

7

92

91,09%

Thống kê điểm từ 15 trở lên

Lớp

TS HS dự thi

Điểm 15 trở lên

HL khá giỏi trong TS dự thi

Lệch điểm

Điểm 15 trở lên năm 19-20

Tổng số

Tỷ lệ

TS

 

TS

 

TS

Tỷ lệ

9/1

27

23

85,19

25

 

-2

 

42/115

36,52%(Tăng 30,81%)

9/2

27

17

62,96

21

 

-4

 

9/3

18

8

44,44

7

 

1

 

9/4

17

11

64,71

10

 

1

 

9/5

12

9

75,00

7

 

2

 

Cộng

101

68

67,33

70

 

-2

 

Thông kê điểm bình quân

Môn

Năm 20-21

Năm 19-20

Tăng/Giảm

Hạng theo môn

Hạng theo trường

Văn

5,220

5,46

Giảm 0,24%

4/12

9/12

Toán

7,117

4,14

Tăng 2.98%

 

 

Tiếng Anh

4,931

4,35

Tăng 0,58%

 

 

Tng bình quân 3 môn

17,268

13,95

Tăng 3,32%

 

 

T l Đ

   95,05%

90,43%

Tăng 4,62%

 

 

 

 2. Nguyên  nhân

a) Nguyên nhân đạt và vượt chỉ tiêu đề ra:

- Giáo viên và học sinh là một thể thống nhất trong hoạt động dạy và học. Thầy nói trò nghe, trò luôn hợp tác với thầy.

- Ngoài dạy chữ giáo viên còn là người truyền cảm hứng để học sinh tin tưởng và yêu thích, say mê học toán.

- Gia đình học sinh luôn quan tâm và theo sát hoạt động học của con em mình.

- Đa số học sinh đề ra mục tiêu cao trong các năm học tiếp theo ở ngôi trường mới.

- Sự quyết tâm học tập của hs giúp giáo viên có động lực dành rất nhiều  thời gian trong việc ôn tập cho hs lớp 9: Ôn chính thức ở lớp, dạy phụ đạo cho hs trung bình, dạy tăng cường ngoài thời khóa biểu cho hs các lớp. Thậm chí nhiều hs khá giỏi còn tham gia học thêm để được làm nhiều bài tập.

b) Nguyên nhân chưa đạt chỉ tiêu đề ra:

* Gia đình học sinh:

- Một số phụ huynh chưa quan tâm đúng mức, phó thác cho nhà trường, không quan tâm đến việc thi tuyển sinh (Đậu học tiếp, không thì thôi)

- Một số phụ huynh không hợp tác với giáo viên trong công tác ôn thi tuyển sinh và còn nuông chìu con quá mức

* Học sinh:

- Hỏngkiến thức quá nhiều (quy tắc chuyển vế, giải pt, bất phương trình, rút căn, hàm số, định lý Pitago, tam giác đồng dạng, tính chất đường phân giác,...)

- Lười học bài và làm bài tập (Không làm bài tập ở nhà thường xuyên hoặc mượn tập bạn chép, chép sách giải để đối phó). Vì vậy học tại lớp là chủ yếu

- Học trước quên sau vì không muốn chiếm lĩnh kiến thức đó

- Tư tưởng ỷ lại vào điểm thi tuyển sinh. Mỗi môn 3,4 điểm cũng đậu nên không cần học nhiều. Thậm chí các em biết cuối năm các em luôn được xét tốt nghiệp nên học nhiều hay ít không quan trọng.

- Do thói quen lười lao động, được gia đình cưng chiều nên thái độ học tập cũng ảnh hưởng, đa số ngại khó, ngại khổ, không muốn bỏ thời gian để học thật sự, kiểm tra thì quay cóp mọi cách, thi cử thì làm tài liệu,...

* Giáo viên:

- Trước học sinh thiếu quá nhiều kiến thức giáo viên mất nhiều thời gian để rèn luyện lại nên việc giảng dạy gặp vô cùng khó khăn, nội dung giảng dạy cho các em cũng hạn hẹp lại.

- Trước những học sinh không làm bài tập ở nhà thì giáo viên phải rèn tại lớp, mỗi tiết rèn được vài em tất nhiên hiệu quả không cao. Lo học sinh yếu thì hs khá ảnh hưởng rất nhiều.

- Học sinh học mau quên nên gv cũng phải dạy mỗi dạng bài rất nhiều lần, mất nhiều thời gian nhưng không được nhiều kiến thức.

- Chính sự lười lao động, sự xem nhẹ việc học của hs làm cho giáo viên không đủ động lực và chùn bước trước khó khăn, giáo viên chưa hy sinh hết thời gian cho các em vì có hy sinh thì nhận lại là sự thờ ơ lãnh đạm của các em.

- Giáo viên vẫn phải bám theo chỉ tiêu cấp trên giao nên cũng còn nâng niu học sinh của mình. Đây cũng là 1 nguyên nhân làm cho học sinh lười lao động.

* Đề thi:

- Cấp độ biết và hiểu trong đề thi là 70%. Tuy nhiên 70% này cũng còn mang tính tương đối theo sự nhìn nhận của người ra đề

- Đề thi có năm cho gãy gọn có năm hành văn dài dòng làm cho đối tượng học sinh trung bình hoang mang khi đọc đề dẫn đến mất định hướng khi làm bài.

3. Đề xuất giải pháp

*Nhà trường:

- Có kế hoạch cụ thể từng giai đoạn và giúp đỡ, tư vấn giáo viên để việc giảng dạy đạt hiệu quả hơn.

- Thực hiện tăng tiết sau khi đã ổn định công tác đầu năm học

- Đề xuất giải pháp thiết thực phù hợp tình hình nhà trường để giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.

- Tiếp tục phân luồng hiệu quả

* Giáo viên:

- GVCN khối 9 phải quản lý chặt, nắm bắt tình hình đạo đức, kết quả học tập của học sinh và đưa ra nhiều hình thức thi đua ở lớp nhằm giúp các em tiến bộ hơn.

- Giáo viên (CN và bộ môn) thông báo kịp thời với PHHS khi học sinh có vấn đề.

- GVBM tranh thủ và dành thời gian cho những học sinh trung bình, khá thật sự để các em giữ được điểm tb trong các kỳ thi, đối với học sinh yếu còn cảm hóa được thì quan tâm giúp các em đậu tuyển sinh (có thể đạt 3,4 điểm), những đối tượng hs khó cảm hóa thì tùy tình huống giải quyết một cách hợp lý nhất.

- Đối với những lớp đa số học sinh tb, yếu giáo viên dạy lý thuyết ngắn gọn, xúc tích dành nhiều thời gian cho việc luyện giải bài tập

- Trước mỗi kỳ thi (giữa kỳ, học kỳ) giáo viên phải dành thời gian vài tiết để ôn tập cho các em (đặc biệt giữa kỳ trong PPCT không có tiết nhưng lấy tiết tự chọn dạy hoặc có thể uyển chuyển sao cho phù hợp)

- Nếu có mất tiết tranh thủ dạy bù cho học sinh, tránh tình trạng dạy chạy theo chương trình dồn nén kiến thức

- Tài liệu ôn tập tuyển sinh cập nhật phù hợp với kiến thức trọng tâm theo SGD gợi ý

* Học sinh:

- Nghe lời và chấp hành tốt nhiệm vụ của hs

- Ý thức tốt, xem trọng việc học, không ngại khó và đặt mục tiêu chính đáng trong kỳ thi ts

- Xem trọng giáo viên, có đầu tư tự học ở nhà giúp giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ

- Quên kiến thức được giáo viên hướng dẫn lại thì cố gắng tiếp thu, quan tâm và khắc phục ngay, tránh tình trạng vô tâm, vô tư biết cũng được, không biết cũng chả sao.

- Định hướng trước từ đầu năm học là thi ts hay học nghề và kiên định trước con đường mình chọn.

* Phụ huynh học sinh:

- Thường xuyên quan tâm đến việc học của con em mình, kết hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục các em.

- Định hướng đúng đắn cho con mình tùy theo khả năng mà chọn học tiếp hay học nghề, tránh tình trạng đua chen theo bạn bè trong khi khả năng không có.

- Bớt nuông chìu con cái, tập con mình yêu thích lao động, tự có trách nhiệm với bản thân.

- Thông cảm và chia sẻ với giáo viên trong công tác giảng dạy.

Tóm lại chất lượng giáo dục của nhà trường có giữ vững và nâng cao hay không là do sự toàn tâm, toàn ý của tập thể nhà trường và những bộ phận có liên quan. Sự thành công của bất kỳ công việc nào đó trong nhà trường đều do sự đồng lòng, sự quyết tâm, sự đoàn kết của tập thể đơn vị bởi vì "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công"

 

                                                                                                               TỔ TOÁN

Tác giả: Lê Thị Tuyết Nương
Nguồn: TỰ LÀM
Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Hôm qua : 12
Tháng 03 : 34
Năm 2021 : 1.163